Tác giả: PHẠM TRÍ
PHẦN II
CHƯƠNG 1: BỤC GIẢNG BÊN DÒNG SÔNG TIỀN
Tôi rời Sài Gòn vào đầu năm 1982. Khi ấy, tấm bằng tốt nghiệp Đại học Sư phạm hãy còn mới, nhưng đời sống của một người sắp đi dạy thì đã sớm cũ. Cũ vì quen chịu đựng, quen chờ đợi, quen sống trong cái thế không được lựa chọn nhiều. Thành phố lúc đó không ồn ào. Nó lặng theo một kiểu riêng. Người ta sống, làm việc, và ít nói về tương lai.
Giấy phân công đưa tôi về Bình Đại, Bến Tre. Một huyện ven sông, xa thành phố, nghe tên đã thấy mùi nước mặn pha phù sa. Tôi đọc kỹ tờ giấy rồi gấp lại. Không có tâm trạng buồn hay vui rõ rệt. Đi đâu cũng được, miễn là còn đứng lớp. Tôi nghĩ vậy.
Chuyến xe đò rời bến từ sáng sớm. Ra khỏi Sài Gòn, cảnh vật đổi dần. Nhà cửa thưa hơn. Sông rạch nhiều hơn. Dừa nước bắt đầu xuất hiện ven đường. Qua phà, dòng sông Tiền mở ra trước mắt, rộng và chậm. Nước không trong nhưng hiền. Nó trôi như thể không có việc gì phải vội.
Lúc đó tôi chưa biết, chính cái chậm ấy sẽ ngấm vào đời mình trong suốt quãng thời gian sau này.
Trường trung học huyện Bình Đại nằm gần bờ sông. Mái tôn cũ, tường vôi loang lổ. Trước sân có một cây bàng lớn, rễ trồi lên khỏi mặt đất. Tôi đứng trước cổng trường, thấy không gian yên ắng đến mức nghe rõ tiếng chim. Một cảm giác lạ: vừa trống trải, vừa nhẹ.
Hiệu trưởng đón tôi bằng cái bắt tay chắc. Ông nhìn tôi từ đầu tới chân, rồi nói:
– Thầy từ Sài Gòn xuống hả? Ở đây nghèo, nhưng tụi nhỏ hiền.
Ông nói gọn, không thêm bớt. Tôi nghe và nhớ. Về sau mới thấy, đó là câu nói đúng nhất về nơi này.
Lớp tôi dạy là lớp đông nhất trường. Học trò phần lớn là con nhà làm ruộng, làm biển. Đứa nào cũng đen nhẻm, chân đất, quần áo cũ nhưng giặt sạch. Ngày đầu vào lớp, tôi bước lên bục gỗ, tay cầm viên phấn, tim đập hơi nhanh. Không phải vì sợ học trò, mà vì biết mình đang đứng trước một trách nhiệm thật sự.
Tôi tự giới thiệu. Cả lớp im. Một lát sau, có thằng nhỏ giơ tay hỏi:
– Thầy ơi, Sài Gòn ban đêm sáng lắm hả thầy?
Cả lớp cười. Tôi cười theo. Câu hỏi đó làm tôi hiểu, tụi nhỏ không tò mò về tôi, mà tò mò về thế giới bên ngoài cánh đồng này. Từ đó, không khí lớp học bớt xa lạ.
Những ngày sau, việc dạy học diễn ra đều đặn. Tôi dạy chữ, nhưng học được nhiều hơn từ học trò. Chúng không lanh, không nói nhiều, nhưng nhớ bài dai. Có đứa đi học trễ vì phải lùa bò, có đứa nghỉ học vì theo cha ra sông thả lưới. Tôi không la. Tôi chỉ nói: “Lần sau ráng.”
Chúng nghe và ráng thật.
CHƯƠNG II : NHÀ TRỌ BÊN CON RẠCH NHỎ
Nhà ông bà Tư Tỏ nằm bên một con rạch nhỏ, nước thông ra sông Tiền. Con rạch không rộng, nhưng nước lúc nào cũng có, trừ mấy tháng nắng gắt thì cạn bớt, để lộ bùn đen dưới đáy. Nhà quay mặt ra rạch, sau lưng là vườn dừa. Buổi sáng, gió từ sông thổi vô, mang theo mùi nước lợ và mùi lá mục.
Tôi ở gian chái bên phải. Gian đó trước kia dùng để chứa lúa. Ông Tư dọn lại, kê cho tôi cái giường gỗ, cái bàn nhỏ. Không có cửa sổ, chỉ có một lỗ thông gió. Đêm nằm nghe rõ tiếng nước vỗ nhẹ vào bờ.
Ngày đầu tới ở, tôi hỏi tiền trọ. Ông Tư xua tay:
– Thầy ở tạm. Khi nào có chỗ khác thì đi.
Tôi hỏi lại lần nữa. Bà Tư nói:
– Ở đây không có ai ở trọ. Có thầy giáo, nhà vui hơn.
Câu nói đó được nói rất bình thường, như thể chuyện cho ở là việc tự nhiên. Tôi không hỏi thêm. Ở quê, hỏi nhiều khi là không phải phép.
Sinh hoạt trong nhà diễn ra đều đều. Sáng sớm, ông Tư dậy chèo xuồng ra sông. Bà Tư nhóm bếp. Mai phụ bà. Tôi dậy sau, ăn cơm nguội với cá kho, rồi đạp xe đi dạy. Không ai thúc ai. Không ai nhắc giờ giấc.
Buổi trưa tôi ít khi về. Ăn cơm ở trường hoặc ghé quán nhỏ ngoài chợ. Chiều về, nhà đã yên. Ông Tư ngồi vá lưới. Bà Tư lựa rau. Mai rửa chén. Mỗi người một việc, không ai sai ai.
Tôi sống trong nhà đó mà ít khi có cảm giác mình là khách. Nhưng tôi cũng không coi mình là người nhà. Vị trí của tôi nằm ở giữa, vừa đủ để không xa, cũng không gần quá.
Buổi tối, tôi thường chấm bài dưới đèn dầu. Đèn đặt trên bàn gỗ, ánh sáng không mạnh. Mai thỉnh thoảng đi ngang, châm thêm dầu. Cô không đứng lại. Không hỏi bài vở. Chỉ làm xong việc rồi đi.
Có hôm mưa lớn. Nước rạch dâng nhanh. Ông Tư gọi tôi ra phụ kê mấy bao lúa. Chúng tôi làm trong im lặng. Làm xong, ai về chỗ nấy. Không ai nói câu cảm ơn.
Ở đây, người ta coi việc giúp nhau là chuyện thường. Nói ra thành dư.
Bữa cơm tối thường ăn sớm. Tôi ngồi ăn cùng ông bà. Mai ăn sau. Có khi tôi bảo:
– Cô Mai ăn chung đi.
Mai lắc đầu:
– Dạ, tôi ăn rồi.
Tôi không ép. Mỗi nhà có nếp riêng.
Có vài người trong xóm biết tôi là thầy giáo, hay ghé chơi. Họ hỏi chuyện Sài Gòn, hỏi chuyện dạy học. Tôi trả lời chừng mực. Không kể nhiều. Tôi biết, người ta hỏi không phải để nghe chuyện lạ, mà để biết tôi là người thế nào.
Có vài người trong xóm biết tôi là thầy giáo, hay ghé chơi. Họ hỏi chuyện Sài Gòn, hỏi chuyện dạy học. Tôi trả lời chừng mực. Không kể nhiều. Tôi biết, người ta hỏi không phải để nghe chuyện lạ, mà để biết tôi là người thế nào.
Ông Tư ít khi xen vào mấy câu chuyện đó. Ông chỉ nghe. Khi khách về, ông nói một câu:
– Thầy giáo ở đây hiền.
Nói xong là thôi.
Tôi ở nhà ông bà Tư hơn một năm. Trong thời gian đó, không có chuyện gì xảy ra đáng gọi là biến cố. Nhưng chính cái không biến cố ấy làm tôi nhớ.
Ở thành phố, người ta quen sống bằng những thay đổi. Ở đây, người ta sống bằng sự lặp lại. Lặp lại nhưng không nhàm. Vì mỗi ngày, người ta đều biết mình cần làm gì.
Có lúc tôi nghĩ, nếu mình không là thầy giáo, chắc cũng sống được ở đây. Làm ruộng, làm biển, hay vá lưới như ông Tư. Ý nghĩ đó thoáng qua rồi thôi. Tôi biết mình chỉ là người đi ngang qua một đoạn đời của họ.
CHƯƠNG III
MAI
Mai là con gái ông bà Tư Tỏ. Cô không phải đứa con gái nổi bật trong xóm. Da không trắng, dáng người không cao. Cô ít nói, và khi nói thì giọng nhỏ. Người ta dễ quên Mai nếu chỉ gặp một lần.
Tôi sống trong nhà ông bà Tư mấy tháng đầu mới để ý tới Mai. Không phải vì cô làm gì khác, mà vì cô luôn có mặt đúng lúc cần, và biến mất khi không cần.
Sáng tôi dậy sớm đi dạy, ấm nước đã được châm. Không ai nói đó là việc của ai. Chiều tôi về, bếp đã nhóm sẵn. Cơm nấu vừa đủ, không dư, không thiếu. Tôi ăn, Mai ngồi dưới bếp, không ăn chung.
Ông bà Tư thương con, nhưng ít khi hỏi han. Ở quê, người ta thương nhau bằng việc làm, không bằng lời.
Mai không hỏi tôi về Sài Gòn. Cô cũng không hỏi tôi dạy học có mệt không. Những câu hỏi đó, nếu có, cô để dành cho im lặng.
Có vài lần, buổi tối mất điện, tôi ngồi chấm bài dưới đèn dầu. Mai đem thêm dầu ra châm, rồi lui vào trong. Không đứng lại. Không nhìn lâu. Tôi biết cô có mặt, nhưng không thấy bị nhìn.
Chúng tôi xưng hô rõ ràng. Tôi là thầy. Cô là con chủ nhà. Ranh giới đó không ai nhắc, nhưng ai cũng giữ.
Những ngày rằm, bà Tư đi chùa. Mai đi theo. Tôi có khi đi cùng. Chúng tôi đi bộ trên con đường đất. Mai đi sau bà Tư. Tôi đi sau cùng. Không ai chen lên. Không ai chậm lại.
Trong chùa, Mai lạy Phật rất lâu. Khi đứng dậy, mặt Mai không đổi. Tôi không hiểu Mai cầu gì. Tôi cũng không hỏi.
Ở xóm, có người hỏi đùa bà Tư:
– Gả con Mai cho thầy giáo được hông?
Bà Tư cười, nói gọn:
– Ổng là thầy giáo.
Câu nói đó chấm dứt mọi chuyện. Tôi nghe, và coi như chưa từng nghe.
Mai vẫn vậy. Không buồn ra mặt. Không né tránh. Mai vẫn nấu cơm, vẫn châm nước, vẫn gọi tôi là thầy. Tôi thấy trong cách Mai giữ khoảng cách có một thứ tự trọng rất rõ.
Có lần trời mưa lớn. Nước sông dâng. Tôi giúp ông Tư kê lại mấy bao lúa. Mai đứng bên hiên, nhìn. Khi xong việc, Mai đưa tôi cái khăn khô. Tôi nhận. Mai quay đi.
Tình cảm, nếu có, thì nằm trong cái khăn đó. Không hơn.
Tôi chưa từng nghĩ đến chuyện vượt qua ranh giới ấy. Không phải vì sợ điều tiếng, mà vì thấy không cần. Có những thứ, giữ nguyên thì tốt hơn là gọi tên.
CHƯƠNG IV
LỄ LÀNG VÀ NHỮNG NGÀY RẰM
Ở Bình Đại, người ta không nói nhiều về lễ lạt, nhưng tới ngày thì ai cũng biết. Không cần thông báo. Không cần nhắc nhở. Cứ tới đó mà làm, như một thói quen đã nằm sẵn trong đời sống.
Lễ lớn nhất trong năm là cúng đình, lễ Kỳ Yên. Đình làng nằm không xa trường học, quay mặt ra con lộ đất. Ngày thường, đình vắng. Chỉ có mấy ông già ra quét lá, thắp nhang. Nhưng tới ngày lễ, cả làng nhúc nhích từ sớm.
Tôi theo học trò ra đình từ buổi sáng. Sân đình đã có người dựng rạp. Phụ nữ bày mâm lễ. Đàn ông lo việc nặng. Mỗi người một tay, không ai đứng chỉ. Mấy đứa học trò gặp tôi thì chào, rồi chạy đi phụ việc. Không ai tỏ ra lạ lẫm vì có thầy giáo đứng đó.
Lễ cúng diễn ra trang nghiêm, nhưng không nặng nề. Người chủ lễ đọc văn tế, giọng đều. Không ai khóc lóc. Không ai cầu xin lớn tiếng. Người ta đứng, chắp tay, lạy. Xong thì lui ra. Tín ngưỡng ở đây không phải để van vỉ, mà để nhớ.
Sau lễ là phần ăn uống. Cỗ bày ra sân đình. Ai tới cũng có phần. Tôi được mời ngồi chung mâm với mấy ông trong ban tế tự. Họ hỏi tôi dạy môn gì, ở đâu xuống. Hỏi xong thì ăn, không hỏi thêm. Tôi thấy nhẹ.
Buổi chiều có hát bội. Tôi không rành tuồng tích, chỉ ngồi coi cho biết. Học trò ngồi xúm xít phía trước. Chúng coi say sưa, như thể chuyện trên sân khấu là chuyện thật. Tôi nhìn chúng, nghĩ rằng có lẽ những buổi như thế này mới là ký ức theo chúng suốt đời, chứ không phải mấy bài giảng của tôi.
Lễ xong, làng lại trở về nhịp cũ. Sân đình vắng dần. Không ai bàn tán nhiều. Người ta coi lễ là việc phải làm, làm xong thì thôi.
Những ngày rằm diễn ra đều hơn. Không lớn, nhưng đều. Bà Tư cứ tới rằm là sửa soạn đi chùa. Mai đi theo. Tôi có khi đi, có khi không. Nếu đi, tôi đi sau, giữ khoảng cách.
Con đường tới chùa là đường đất. Hai bên là vườn dừa, vườn chuối. Đi buổi sáng thì mát. Đi buổi chiều thì có gió. Không ai nói chuyện lớn tiếng. Gặp người quen thì chào, hỏi một câu, rồi đi tiếp.
Trong chùa, mùi nhang lúc nào cũng nhẹ. Không khói mù. Người ta lạy Phật chậm. Có người đứng rất lâu, không khấn. Chỉ đứng. Tôi cũng vậy.
Mai mỗi lần lạy đều lạy đủ ba lạy. Xong thì ngồi yên. Mặt không biểu lộ gì. Tôi không biết Mai nghĩ gì. Tôi cũng không tìm hiểu. Ở chùa, người ta giữ chuyện riêng cho mình.
Về nhà, bà Tư thường nấu bữa cơm chay. Không nói đó là cúng. Cứ nấu, rồi ăn. Mai dọn cơm như mọi ngày. Tôi ăn, thấy nhẹ bụng.
Ở Bình Đại, tín ngưỡng không tách khỏi đời sống. Người ta không xem đó là chuyện lớn lao. Cúng đình, đi chùa, cúng rằm chỉ là một cách giữ cho đời sống không bị trôi tuột.
Có lần tôi hỏi một học trò:
– Sao con đi chùa?
Nó trả lời:
– Dạ, tại má con đi.
Câu trả lời đó đủ. Người ta giữ nếp vì cha mẹ giữ, không cần lý do khác.
Ở trường, những ngày gần lễ, học trò đi học đông đủ hơn. Có lẽ chúng muốn xong việc để còn đi coi hát, đi phụ nhà. Tôi không cấm. Tôi chỉ dặn: “Đi coi, nhưng nhớ về sớm.”
Chúng gật đầu. Tôi tin.
Lễ lạt qua đi, nhưng dư âm còn. Tôi thấy nó trong cách người ta nói chuyện nhỏ lại vài ngày sau lễ. Trong cách bà Tư thắp nhang buổi tối. Trong cách Mai giữ gìn những việc nhỏ như thường.
Tôi sống giữa những sinh hoạt đó, không phải như người ngoài cuộc, mà cũng không hẳn là người trong. Tôi đứng ở một chỗ vừa đủ để quan sát. Và có lẽ, chính nhờ đứng ở chỗ đó, tôi mới thấy được cái bền của đời sống nơi này.
Ở thành phố, người ta hay nói tới thay đổi. Ở Bình Đại, người ta sống bằng sự tiếp nối. Lễ này qua, lễ khác tới. Người cũ mất đi, người mới lớn lên. Nhưng cách cúng, cách đi chùa, cách giữ nếp thì vẫn vậy.
Tôi nghĩ, có lẽ chính những thứ không thay đổi ấy đã giữ cho vùng đất này không tan ra theo con nước.
CHƯƠNG V
RỜI BÌNH ĐẠI
Việc tôi rời Bình Đại không đến đột ngột. Nó được báo trước bằng một tờ giấy ngắn, gửi từ trên tỉnh xuống. Tôi đọc xong, gấp lại, để đó. Không nói với ai ngay. Ở đây, người ta quen sống chậm. Tin gì cũng cần thời gian để thấm.
Mấy ngày sau, tôi mới nói với hiệu trưởng. Ông nghe, gật đầu. Không hỏi lý do. Chỉ nói:
– Ở đâu cũng vậy, thầy à.
Câu nói đó đủ. Không cần thêm.
Ở lớp, tôi chưa nói gì với học trò. Tôi chờ tới gần ngày đi. Tôi không muốn làm chúng xao động sớm. Những ngày cuối, tôi dạy như thường. Không nhắc chuyện chia tay. Không dặn dò nhiều. Tôi biết, lời nói lúc đó dễ thành dư.
Có đứa học trò nhìn tôi lâu hơn mọi ngày. Tôi thấy, nhưng làm như không thấy. Tôi nghĩ, tụi nhỏ rồi sẽ quen. Ở quê, người ta quen với chuyện người đến rồi đi.
Tôi bắt đầu dọn đồ. Gian chái bên nhà ông bà Tư trống dần. Mấy cuốn sách được buộc lại bằng dây. Quần áo không nhiều. Tôi ở đây lâu, nhưng đồ đạc ít. Có lẽ vì sống ở đây không cần nhiều thứ.
Bà Tư thấy tôi dọn, không hỏi. Chỉ nấu thêm vài bữa canh. Ông Tư vẫn chèo xuồng như thường. Không ai tỏ ra vội vã.
Mai vẫn sinh hoạt như cũ. châm nước, nhóm bếp, dọn cơm. Không hỏi ngày đi. Cô không nói lời tiễn. Tôi biết, Mai chọn cách giữ yên.
Có một buổi chiều, trời đứng gió. Tôi ngồi bên rạch, nhìn nước. Mai mang ra cho tôi cái ghế. Đặt xuống rồi đi vào. Không nói. Tôi ngồi đó lâu hơn mọi ngày.
Ở trường, tôi nói với học trò vào buổi học cuối. Tôi chỉ nói:
– Thầy sắp chuyển đi.
Cả lớp im. Một lúc sau, có đứa hỏi:
– Thầy còn về nữa không?
Tôi nói:
– Có dịp, thầy về.
Tôi biết, câu trả lời đó vừa đủ. Không hứa nhiều.
Buổi học cuối trôi qua bình thường. Không ai khóc. Không ai làm ồn. Khi tan lớp, mấy đứa đứng lại chào. Tôi gật đầu. Thế là xong.
Ngày tôi đi, trời không mưa. Sáng sớm, tôi xách túi ra trước sân. Ông Tư đứng đó. Ông bắt tay tôi, nói:
– Đi đường cẩn thận.
Bà Tư đứng trong bếp. Tôi chào bà. Bà gật đầu.
Mai đứng gần cửa sau. Cô cúi đầu chào, nói nhỏ:
– Thầy đi.
Tôi gật đầu. Không nói gì thêm.
Ra tới đầu xóm, tôi quay lại nhìn một lần. Nhà ông bà Tư vẫn vậy. Không có ai đứng tiễn. Tôi thấy nhẹ.
Ra bến xe, tôi gặp mấy học trò. Chúng đem cho tôi mấy trái ổi. Tôi nhận. Không nói gì nhiều. Xe tới. Tôi lên xe.
Qua phà, dòng sông Tiền mở ra trước mắt. Nước vẫn trôi chậm. Không đổi. Tôi nhìn, thấy như mình vừa đi qua một đoạn đời, không dài, nhưng đủ để nhớ.
Tôi rời Bình Đại mà không mang theo điều gì cụ thể. Không kỷ vật. Không lời hẹn. Nhưng tôi biết, có những thứ đã ở lại trong tôi, không cần gọi tên.
Bục giảng bên dòng sông Tiền không còn nữa. Nhưng cách tôi đứng trên bục giảng từ đó về sau thì khác.
Tôi không nghĩ nhiều về chuyện sau này. Tôi chỉ biết, mình đã sống trọn một đoạn đời ở đó.
Tôi không biết rằng, ở Sài Gòn, mẹ tôi đang âm thầm chuẩn bị một con đường khác. Một con đường không có bảng đen, không có phấn trắng, chỉ có biển đêm, nhà tù, và những lần sinh tử.
Tôi không biết rằng, ở Sài Gòn, mẹ tôi đang âm thầm chuẩn bị một con đường khác. Một con đường không có bảng đen, không có phấn trắng, chỉ có biển đêm, nhà tù, và những lần sinh tử.
Và như mọi lần rẽ của đời sống, tôi bước đi mà không ngoái lại lâu.
Hết phần II
Mời đón đọc phần III vào số xuất bản kế tiếp













