ABU SIMBEL VÀ CUỘC GIẢI CỨU NGOẠN MỤC CỦA UNESCO

Tác giả: Hồng Minh Nhân 

Nếu có một cuộc thi “Ai yêu bản thân mình nhất lịch sử cổ đại”, Ramses II vị vua nổi tiếng Ai Cập chắc chắn ẵm giải quán quân. Ông không chỉ xây đền đài, ông tạc chính mình vào vách núi, to đùng, bốn phiên bản, ngồi chễm chệ nhìn xuống dòng sông Nile như muốn nói với cả thế giới: “Ta là Vua, và ta đang nhìn các ngươi đấy!”. Đó chính là đền Abu Simbel – kiệt tác PR thương hiệu cá nhân vĩ đại nhất mọi thời đại.

Nhưng đời không như mơ, và lịch sử thì luôn chứa đựng những bất ngờ thú vị.

Quang cảnh đền Abu Simbel gồm: Đền Lớn (Hut Ramesses Meryamun) – dành cho Ramses và Đền Nhỏ (Hut Hathor nebet Ibshek) dành cho Hoàng Hậu Nefertari – vợ yêu quý của ông.

Vận may từ những hạt cát và chiếc mũi của Ramses II

Sau khi Ramses II băng hà, cát sa mạc – gã lãng tử kiên nhẫn nhất thế giới – đã lẳng lặng lấp đầy ngôi đền. Các “vị thần” khổng lồ bị chôn vùi, ngủ yên suốt hàng thiên niên kỷ. Nhưng hóa ra, bị “chôn sống” lại là vận may lớn nhất của Ramses II.

Tại sao hầu hết các bức tượng cổ đại ở Ai Cập đều bị vỡ mũi? Không phải do thợ điêu khắc vụng về, mà là do sự phá hoại có chủ đích. Các vị vua đời sau, các thế lực xâm lược sau này, những kẻ trộm mộ tin rằng: đập vỡ mũi tượng là cắt đứt “hơi thở”, làm bức tượng mất đi linh hồn và quyền năng, không thể trừng phạt kẻ xâm phạm.

Chính nhờ lớp cát dày che phủ, Ramses II ở Abu Simbel đã trốn được những cú búa tàn nhẫn ấy. Ông “ngủ nướng” trong cát, bảo toàn được khuôn mặt uy nghiêm và đặc biệt là chiếc mũi cao thẳng tắp – một điều cực kỳ hiếm hoi trong thế giới cổ vật Ai Cập. Trong khi nhân sư Sphinx mất mũi, vô số tượng ở Luxor bị đập phá sứt sẹo hết mặt mày, thì Ramses II ở đây vẫn đẹp trai ngời ngời sau hơn 3.000 năm.

Mũi Tượng Nhân sư ở Kim Tự Tháp Giza đã bị phá hủy bởi một người Hồi giáo dòng Sufi tên là Muhammad Sa’im al-Dahr vào thế kỷ 14 (năm 1378). Sau đó, ông này đã bị dân chúng phẫn nộ bắt được, bị treo cổ.

 

Cậu bé chăn dê và cái tên đi vào lịch sử

Sau Ramses II, các vị vua từ từ di dời đến những vùng lãnh thổ khác thuận lợi hơn, cộng đồng dân cư cũng dời theo, các vị cao niên còn biết và nhớ đến ngôi đền lần lượt qua đời, thông tin truyền cho người đời sau ngày càng mờ nhạt, người Ai Cập đã quên hẳn những bức tượng kỳ vĩ ấy. Mãi đến đầu thế kỷ 19, vua Ramses II mới được đánh thức. Một nhà thám hiểm tên là Giovanni Belzoni đã mò mẫm đến đây dựa vào những truyền thuyết, ông tìm hỏi khắp nơi và một cậu bé địa phương chăn dê đã sực nhớ ra có thấy những cái gì đó nhô lên sau những trận bão cát. Belzoni và các nhà khảo cổ cộng sự đã đào bới và tìm thấy ngôi đền bị cát nuốt chửng suốt bao năm.

Để tri ân “hướng dẫn viên” nhí thông minh lanh lợi nhiệt tình, họ lấy tên cậu là Abu Simbel đặt luôn cho ngôi đền. Hãy tưởng tượng xem, Ramses II vĩ đại, người tạc tượng mình cao 20 mét, cuối cùng lại phải “ở trọ” trong ngôi đền mang tên một cậu bé chăn dê. Cú chơi khăm của lịch sử đôi khi cũng thật hài hước và dân chủ!

 

Trên mảng điêu khắc trong đền Abu Simbel này là nữ thần Hathor đội chiếc mũ có đĩa mặt trời, tay cầm biểu tượng Ankh (chìa khóa sự sống) cùng Thần Atum thần bầu trời đang thể hiện sự công nhận quyền lực hợp pháp của Ramses II đối với Ai Cập. Các nghệ nhân Ai Cập cổ đại cố tình tạo hình để nhấn mạnh chỗ nhạy cảm – sức mạnh nam tính của Ramses II – người cha của hơn 100 đứa con và là vị vua quyền lực nhất lịch sử Ai Cập thọ đến hơn 90 tuổi (trong khi thời đó tuổi thọ trung bình chỉ khoảng 50)

Tai nạn “đuối nước” và lời kêu cứu toàn cầu

Đến thập niên 1960, tai họa ập đến. Ai Cập quyết định xây đập cao Aswan, tạo hồ Nasser để chinh phục dòng sông Nile hung dữ lâu lâu lại trái tính trái nết. Tin dữ bay về: Abu Simbel sắp chết đuối! Nước dâng lên thì thần thánh cũng chịu thua. Ramses II sắp sửa phải ngắm rong rêu, tôm cá thay vì mặt trời. Abu Simbel vốn được tạc vào đá sa thạch (sandstone). Loại đá này xốp và mềm, không cứng như đá ở các ngôi đền khác của Ai Cập. Nếu bị ngâm nước, đá sa thạch sẽ rã ra như bánh quy chấm sữa, và toàn bộ các bức tranh tường tuyệt đẹp bên trong (vẽ bằng màu gốc nước) chẳng mấy chốc sẽ tan biến không dấu vết.

UNESCO đã làm một việc chưa từng có tiền lệ: Kêu gọi toàn thế giới rằng di sản này không phải của riêng Ai Cập, mà là của chung loài người, hãy cùng nhau cứu lấy các vị thần!

Và thế giới đã trả lời. Một liên minh quốc tế được thành lập, gạt bỏ mọi bất đồng chính trị, chỉ chung một mục đích to lớn dời non lấp bể: mang ngôi đền lên chỗ cao ráo và an toàn hơn.

Hơn 50 quốc gia đã đóng góp, nhưng có những cái tên phải được khắc bia vàng:

Thụy Điển: Đây là “bộ não” của dự án. Chính các kỹ sư Thụy Điển đã đưa ra ý tưởng táo bạo về việc cắt nhỏ ngôi đền (trong khi Ý muốn kích thủy lực nâng cả quả núi – quá rủi ro, còn Anh thì muốn xây đê bao quanh – quá tốn kém và bất tiện).

Hoa Kỳ: Nhà tài trợ hào phóng nhất. Mỹ đã chi hơn 12 triệu USD (tương đương khoảng 100 triệu USD ngày nay) để cứu lấy di sản này.

Ý: Đưa sang Ai Cập những đôi bàn tay vàng. Các nghệ nhân điêu khắc đá cẩm thạch trứ danh cùng các kỹ sư Ý đã đảm nhiệm phần thi công cắt đá và lắp ghép cực kỳ khó khăn và tinh vi.

Hà Lan: Bộ não về kỹ thuật thủy lợi với kinh nghiệm hàng trăm năm chiến đấu với biển cả, đã mang đến thứ mà dự án Abu Simbel cần nhất lúc đó: Khả năng kiểm soát nước.

Tây Ban Nha: Bảo hộ Khảo cổ & Di sản. Bằng cách đảm nhận trách nhiệm bảo tồn các khu vực vệ tinh (như Argin, Masmas), Tây Ban Nha giúp nguồn lực quốc tế (tiền bạc, máy móc hạng nặng) có thể tập trung dồn toàn lực cho “trận đánh lớn” tại Abu Simbel mà không sợ làm mất mát các phần lịch sử khác của văn minh Nubia.

Đức & Pháp: Cung cấp các thiết bị trắc địa và quang trắc (photogrammetry) tiên tiến nhất để lập bản đồ 3D ngôi đền trước khi tháo dỡ, đảm bảo khi lắp lại không bị thừa hay thiếu bất cứ chi tiết nhỏ nào.

Ngôi đền Abu Simbel quay về hướng chánh Đông, nhìn ra mặt hồ nhân tạo Nasser – tạo lập từ đập Aswan để chinh phục sông Nile mùa lũ – quang cảnh mỗi bình minh luôn rực rỡ tuyệt vời

 

Ca “đại phẫu thuật” lớn nhất hành tinh

UNESCO quyết định: Cắt nhỏ ngôi đền ra và khiêng đi chỗ khác. Đây là trò chơi LEGO đắt đỏ và căng thẳng nhất lịch sử. Vì đá sa thạch rất giòn, sơ suất chút thôi là bộ mặt bảnh bao của Ramses II sẽ thành đống cát vụn. Các kỹ sư phải “tiêm thuốc” nhựa tổng hợp để gia cố trước khi cắt. Không được nổ mìn, không máy xúc thô bạo. Các nghệ nhân tài hoa của nước Ý đã dùng cưa tay để miệt mài cắt từng milimet đá, chia ngôi đền thành 1.036 khối, mỗi khối nặng đến 30 tấn, với sai số cho phép không hơn độ dày một sợi tóc.

Khi đập cao Aswan bắt đầu tích nước vào đầu những năm 1960, mực nước hồ Nasser dâng lên rất nhanh. Năm 1964, khi các kỹ sư bắt đầu thi công, nước đã mấp mé đe dọa chân đền. Để bảo vệ đền và có thể làm việc khô ráo, họ phải xây dựng khẩn cấp một con đê quây (coffer dam) khổng lồ bằng thép và đá, cao khoảng 25 mét và dài 360 mét bao quanh mặt tiền ngôi đền. Bên ngoài đê, nước hồ cứ dâng cao dần, cao hơn cả bàn chân của tượng Ramses II. Bên trong đê, các kỹ sư và công nhân vẫn đang miệt mài cưa cắt trong một cái “hố” khô ráo nằm thấp hơn mặt nước. Nếu không có con đê đó, hoặc nếu dự án chậm trễ vài tháng, Abu Simbel đã vĩnh viễn chìm xuống đáy hồ rồi.

Họ di chuyển các khối đá lên vị trí mới cao hơn 65 mét, lùi sâu vào bờ 200 mét. Ngôi đền cũ nằm ở bờ Tây của dòng sông (trong văn hóa Ai Cập, bờ Tây là nơi mặt trời lặn, tượng trưng cho thế giới bên kia hoặc nơi an nghỉ của các pharaoh).

Hướng nhìn: Từ bờ Tây, 4 bức tượng Ramses II khổng lồ quay mặt về hướng mặt trời mọc. Trước mặt ngài là dòng sông Nile thơ mộng chảy từ Nam ra Bắc. Không phải ngẫu nhiên mà Ramses II lại chọn hướng này. Việc nhìn thẳng về hướng Đông phục vụ hai mục đích:

Về tâm linh: Hướng Đông là nơi thần Mặt trời (Ra) tái sinh mỗi sáng. Ramses II muốn mình là người đầu tiên đón nhận những tia nắng quyền năng ấy để nạp năng lượng hồi sinh mỗi ngày.

Về kỹ thuật: Ramses II và các kiến trúc sư cổ đại thiết kế chính xác canh theo mặt trời, để một năm chỉ có 2 ngày ánh sáng chiếu xuyên hoàn hảo qua cửa hang, đi thẳng một đường dài 60 mét qua đại sảnh, và rọi vào tận cùng gian thờ thiêng liêng nhất, thắp sáng gương mặt các “vị thần” bên trong, đó là hai ngày kỷ niệm trọng đại nhất trong cuộc đời Ramses II: ngày 22/2 ông đăng quang và ngày 22/10 sinh nhật ông. Mà đặc biệt thú vị là ánh sáng chỉ soi rọi mặt ba vị Amun-Ra, Ramses II, Ra-Horakhty, chừa vị thần Ptah trong góc trái lại, vì đó là thần Bóng tối.

Năng lượng mặt trời giúp tái sinh nhà vua và kết nối ông với hai vị thần quyền lực nhất. Tia nắng sẽ dừng lại ngay sát bức tượng đầu tiên bên trái – thần Ptah. Ông vẫn ngồi đó, chìm hoàn toàn trong bóng tối vĩnh cửu, trong khi người ngồi ngay cạnh mình (Amun-Ra) lại sáng rực. Chủ đích của Ramses II: Ptah là đại diện cho sự khởi đầu từ bóng tối nguyên thủy và kết nối với cái chết – cõi âm. Vì vậy, thần không được phép tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, phải mãi mãi thuộc về bóng tối. Các kiến trúc sư cổ đại tính toán hướng đền chuẩn xác đến mức tia nắng khi rọi thẳng sâu vào chỉ chiếu sáng đúng 3 tượng và né hoàn toàn tượng thứ 4 đang ngồi sát rạt kế bên, quả là một thành tựu toán học và thiên văn học mà công nghệ hiện đại phải kinh ngạc cúi đầu khâm phục. Ramses II đúng là một bậc thầy về dàn dựng sân khấu: Ông vừa muốn tắm mình trong ánh sáng thần thánh, vừa tôn trọng tuyệt đối quy luật của thế giới ngầm!

 

Từ trái qua là Thần Ptah (thần bóng tối) không bao giờ được mặt trời chiếu tới, Thần Amun-Ra (thần bảo hộ Thebes), Ramses II, nhà vua đã tự thần thánh hóa bản thân, ngồi chễm chệ giữa các vị thần tối cao, Thần Ra-Horakhty (Thần Mặt trời buổi sáng có đầu chim ưng)

Các chuyên viên khi dời đền cũng đã phải tính toán hết sức tỉ mỉ sao cho vào ngày 21/2 và 22/10 hàng năm, ánh nắng mặt trời vẫn chiếu thẳng vào trong đền chính xác y như vị trí cũ. Đây thực sự là cuộc đấu trí giữa thiên văn học cổ đại và trắc địa học hiện đại. Dưới đây là cách họ đã làm điều đó và kết quả thực tế: Các kỹ sư không thể chỉ đơn giản là nhấc ngôi đền lên cao 65 mét và đặt xuống. Vì Trái đất hình cầu và trục quay nghiêng, việc thay đổi vị trí (dù chỉ là 200m lùi vào và 65m lên cao) sẽ làm thay đổi góc độ của ngôi đền so với đường chân trời. Nếu đặt sai lệch chỉ vài milimet hoặc sai góc nghiêng, ánh sáng sẽ không đi đủ sâu vào trong 60 mét để chạm tới Thánh địa (Sanctuary) hoặc sẽ chiếu lệch, không soi rọi đúng khuôn mặt các vị thần.

Các kỹ sư và nhà thiên văn học quốc tế đã phải làm việc này theo quy trình ngược: Xác định tia sáng trước, xếp đá sau, tính toán chính xác hướng (phương vị – azimuth) và độ cao của mặt trời vào ngày 21/2 và 21/10 tại vị trí mới.

Sau đó, định vị cửa đền: Họ xác định vị trí chính xác của khung cửa đền dựa trên tia sáng tính toán đó. Cuối cùng là lắp ráp xung quanh trục sáng. Toàn bộ quá trình lắp ráp lại các khối đá được thực hiện xoay quanh “trục ánh sáng” vô hình này. Họ sử dụng các máy kinh vĩ (theodolites) có độ chính xác cao nhất thời bấy giờ để căn chỉnh từng khối đá ở lối vào và sảnh chính.

Sau bao nỗ lực, “kịch bản ánh sáng” vẫn diễn ra chính xác tuyệt vời. Trong khoảng 20 phút ngắn ngủi khi mặt trời mọc, tia nắng sẽ đi xuyên qua cửa, chạy dọc hành lang dài 60 mét và chiếu vào 4 bức tượng trong cùng và Thần Ptah vẫn chìm trong bóng tối ngay cả khi 3 vị bên cạnh rực sáng là niềm vui vô bờ của các chuyên gia hiện đại. Nếu họ tính sai góc, Ptah có thể đã bị chiếu sáng, và ý nghĩa tôn giáo – tâm linh của ngôi đền sẽ bị phá hủy.

Đại sảnh là hai hàng tượng đều là Ramses II với tư thế đứng, hai tay bắt chéo trước ngực cầm vương trượng – tư thế của thần Osiris – vị thần cai quản thế giới bên kia. Hàm ý ông không chỉ là vua ở trần gian mà ông còn ngang hàng với thần thánh và bất tử ở thế giới bên kia

 

Đây là 4 tượng Ramses II và 2 tượng là Hoàng hậu Nefertari: Bà đứng kẹp giữa hai tượng của chồng mình ở mỗi bên. Để chứng minh tình yêu của mình, Ramses II đã cho tạc tượng vợ mình cao bằng chính mình chứ không theo tỉ lệ quy định cổ đại là tượng hoàng hậu chỉ cao đến đầu gối các pharaoh.

 

Khi cắt rời ngôi đền, các kỹ sư đối mặt với thực tế đau đầu: Ngôi đền gốc được tạc vào núi đá tự nhiên, chính khối núi đó chịu lực cho trần đền. Khi lắp ghép lại ở vị trí mới, các khối đá sa thạch (sandstone) của đền trở nên rất yếu và rời rạc. Chúng không thể chịu được sức nặng của hàng nghìn tấn đất đá đổ lên trên để tạo giả ngọn núi.

Giải pháp được đưa ra: Xây một cái “hầm trú ẩn” bằng bê tông cực khỏe chụp lên trên ngôi đền, rồi mới đổ đất đá lên cái hầm đó.

Công trình tái thiết lập này có cấu trúc như một chiếc búp bê Nga:

Lớp trong cùng: Ngôi đền cổ là các khối đá gốc 3000 năm tuổi được lắp ghép lại. Để giữ chúng dính vào nhau, người ta dùng nhựa resin và các thanh cốt thép neo giữ (tương tự như kỹ thuật nha khoa). Phía trên trần của lớp đá này được treo lơ lửng, không chịu bất kỳ lực nén nào từ bên trên.

Lớp ở giữa: Khoảng không gian đệm giữa trần ngôi đền và mái vòm bê tông có một khoảng trống lớn. Khoảng trống này cho phép các kỹ sư đi lại, kiểm tra độ ẩm, nhiệt độ và độ ổn định của các khối đá từ phía sau (backstage). Đây là khu vực “tuyệt mật” mà du khách bình thường không nhìn thấy.

Lớp ngoài cùng: Vòm bê tông chịu lực là một mái vòm bê tông cốt thép khổng lồ bao trùm toàn bộ có chức năng chịu toàn bộ sức nặng của ngọn núi nhân tạo bên trên.

Sau khi cái “lồng” bê tông này hoàn thành, các kỹ sư mới thực hiện bước cuối cùng. Họ lấy chính những tảng đá thừa ra từ quá trình đào núi ban đầu, xếp chồng lên mái vòm bê tông để tạo hình dáng giống hệt ngọn núi cũ. Kết quả là khi đứng từ bên ngoài, bạn thấy một ngọn núi đá sần sùi, tự nhiên, nhưng thực chất lõi của nó là công nghệ bê tông thế kỷ 20.

Cuộc chạy đua với thời gian để cứu đền Abu Simbel là một chiến dịch phi thường kéo dài trong khoảng gần 5 năm (tính riêng thời gian thi công trực tiếp) và mở cửa lại ngay sau khi hoàn tất.

Sự trả ơn của Ai Cập: Màn “Ngoại giao Di sản”

Ai Cập lúc bấy giờ không giàu tiền bạc, nhưng họ giàu… đền đài. Để tri ân các quốc gia đã đóng góp nhiều nhất, Tổng thống Gamal Abdel Nasser đã làm một việc chưa từng có: Tặng luôn đền thật cho nước bạn.

Đây không phải là mô hình hay đồ lưu niệm, mà là những ngôi đền cổ 2000-3000 năm tuổi, cũng nằm trong vùng ngập nước cần giải cứu. Ai Cập đã tháo dỡ chúng, đóng thùng và ship thẳng đến tận thủ đô các nước ân nhân:

Đền Dendur tặng cho Hoa Kỳ: Hiện đang nằm trang trọng trong một căn phòng kính khổng lồ tại Bảo tàng Metropolitan (The Met) ở New York. Đây là một trong những điểm tham quan nổi tiếng nhất của New York.

Đền Debod tặng cho Tây Ban Nha : Ai Cập tặng ngôi đền này. Hiện nó nằm lộ thiên giữa công viên Parque del Oeste ở Madrid. Ngắm hoàng hôn tại đền Debod giữa lòng Madrid là một trải nghiệm siêu thực.

Đền Taffeh tặng cho Hà Lan: Hiện đền đang nằm trong Bảo tàng Quốc gia về Cổ vật (Rijksmuseum van Oudheden) ở thành phố Leiden.

Đền Ellesyia tặng cho Ý: Ngôi đền này hiện nằm trong Bảo tàng Ai Cập (Museo Egizio) ở Turin.

Cách Ai Cập trả ơn thế giới thật sự sâu sắc: Chia sẻ di sản để gìn giữ di sản. Đó là những “Đại sứ vĩnh cửu”, là chứng nhân cho một thời kỳ mà nhân loại đã gác lại những toan tính biên giới để cùng nhau cứu lấy ký ức chung của loài người.

Abu Simbel được cứu sống ở Ai Cập nhưng tinh thần của ngôi đền thì đang sống rải rác khắp các đô thị lớn phương Tây.

ABU SIMBEL
Toàn cảnh ngôi đền nhìn từ bên ngoài với 4 bức tượng Ramses II cao 20 mét. Bức tượng thứ hai từ trái sang đã bị mất phần thân trên trong một trận động đất ngay từ thời cổ đại (chỉ vài năm sau khi đền khánh thành). Khi di dời các kỹ sư quyết định giữ nguyên hiện trạng đổ vỡ đó để tôn trọng lịch sử, thay vì phục dựng lại.

Lời kết

Từ Cairo, nhóm chúng tôi bay đến Aswan trong đêm, Sau đó, chúng tôi đi xuyên đêm ngủ xiêu vẹo trên xe để đến Nubia, miền Nam Ai Cập. Abu Simbel nằm giữa sa mạc mênh mông và biệt lập hoàn toàn với các thành phố lớn, cách biên giới Sudan chỉ khoảng 20 km. Chúng tôi đến vừa kịp lúc để ngắm mặt trời ban mai rực rỡ nhô lên từ phía sông Nile và hồ Nasser, soi rọi huyền ảo lên khuôn mặt của các bức tượng nghiêm trang. Giá vé (bao gồm cả di chuyển) không hề rẻ: 150 USD, nhưng chúng tôi không mua một chỗ tham quan, mà là mua một cơ hội để chứng kiến những khả năng vô biên của con người.

Đứng trước mặt tiền ngôi đền, ta thấy mình nhỏ bé không phải vì kích thước bức tượng, mà vì khát vọng bất tử của Ramses II. Ông ấy muốn mình là thần thánh, và kỳ lạ thay, 3000 năm sau, cả thế giới phải chung tay, dùng những công nghệ tối tân nhất để giữ gìn cái khát vọng ấy. Quả là một trong những cá tính mạnh mẽ nhất lịch sử nhân loại.

Đứng trước Abu Simbel ngày nay, ta không chỉ choáng ngợp trước cái tôi vĩ đại của Ramses II. Ta còn xúc động rưng rưng trước một tượng đài khác, vô hình nhưng vĩ đại hơn: Sức mạnh trí tuệ và Tình đoàn kết nhân loại.

Abu Simbel là minh chứng rằng con người có thể tạo ra vũ khí để hủy diệt nhau, nhưng khi cần, chúng ta cũng có thể chung tay nâng niu từng viên đá vỡ, từng mẩu tượng lâu đời… để cứu lấy ký ức cho muôn đời sau. Và Ramses II, với chiếc mũi còn nguyên vẹn nhờ lớp cát năm xưa, có lẽ đang mỉm cười mãn nguyện vì biết rằng: Ramses II đã bất tử, không chỉ nhờ vào những nỗ lực của ông để tạo tác những tượng đài, mà nhờ vào tình yêu của cả thế giới./.

 

Ai Cập những ngày đầu năm 2026

Bài và ảnh: Hồng Minh Nhân

Viết từ trải nghiệm và cảm xúc riêng. Vui lòng trích dẫn nguồn đầy đủ nếu bạn muốn mang bài viết đi nơi khác.

 

One thought on “ABU SIMBEL VÀ CUỘC GIẢI CỨU NGOẠN MỤC CỦA UNESCO

  1. HỒ THỊ KIM THU says:

    Bài viết hay, một trải nghiệm đầy thú vị, cung cấp nhiều thông tin về một vùng đất đầy huyền thoại vẫn còn là một ẩn số đối với nhiều người. Cảm ơn tg.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *