CẢM NHẬN VĂN HỌC
Tác giả: NGUYỄN LÔC

Tác giả: Nguyễn Lộc
Có những dòng sông không chỉ chảy qua đất, mà còn chảy qua lòng người. Như Thu Bồn – con sông mang dáng hình của xứ Quảng – và cũng là con sông đã thấm vào từng câu thơ của Vạn Lộc, người đàn bà làm thơ bằng hơi thở quê hương, bằng nhịp tim nhân hậu, bằng đôi mắt thấu suốt buồn vui phận người.

Nhà thơ Vạn Lộc
Sinh ra ở xứ tằm tang Duy Trinh, nơi nắng gió và đất đai đượm mùi phù sa, Nhà thơ Vạn Lộc (tên thật Võ Thị Hội) đã lớn lên nhờ hạt cơm, hạt bắp quê mình. Vượt qua những gian khổ của thuở quê hương đầy bom đạn chiến tranh, chị chọn con đường bươn chải mưu sinh để lo cho con. Hành trình ấy thấm đượm chất Quảng – chịu thương, chịu khó, hết lòng vì gia đình. Thế nhưng, có duyên rồi thành nợ. Người không chọn chữ nhưng chữ vẫn theo người. Từ tập thơ đầu chị lấy con chữ làm nơi nương náu của tâm hồn. Dần theo lối đi trên hành trình thơ Vạn Lộc trong dòng chảy văn học quê nhà, người đọc dễ dàng nhận ra cái chất đặc trưng người Quảng trong thơ chị. Quả thật, hành trình thơ Vạn Lộc là một hành trình âm thầm mà bền bỉ – như giọt sương bám trên lá, như ngọn đèn chong khuya trong căn nhà nhỏ. Ở đó, nỗi niềm đàn bà, niềm thương quê, niềm tin vào điều thiện… đan xen, kết thành sợi chỉ ấm nối người với người. Vạn Lộc viết không phải kiếm tìm sự nổi tiếng. Chị viết là để giữ lại hơi ấm của lòng nhân, để đặt yêu thương lên vai chữ, để xoa dịu những điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng khiến người ta nhớ mãi. Thơ chị không gào thét, mà lặng lẽ; không phô trương, mà thấm thía. Trong từng nhịp câu, ta nghe được tiếng gió quê thổi vào ký ức, nghe được tiếng lòng người mẹ, người vợ, người thơ cùng hòa trong nhịp thở của miền Trung đầy gió.
Thơ Vạn Lộc là sự hòa quyện của hiện thực và mộng tưởng, của đau và thương, của đất và người. Chị đến với thơ không như một sự nghiệp, mà như một nghiệp duyên – nơi mỗi câu chữ là giọt máu của ký ức, mỗi vần thơ là hơi thở của nhân tình. Và rồi, giữa bao biến thiên của thời đại, giọng thơ ấy vẫn ngân lên: dịu dàng mà mạnh mẽ, mộc mạc mà thẳm sâu – như một tiếng nói riêng của người phụ nữ miền Trung chịu thương chịu khó, và cũng là tiếng nói chung của xứ Quảng nhân hậu, nghĩa tình.
Hành trình hình thành giọng thơ Vạn Lộc – Người đàn bà mang chữ từ đất quê.
Có những người đến với thơ như đi qua một khúc quanh của đời mình – không toan tính, không không chủ đích. Và hồn thơ dần lớn lên từ mạch nguồn gieo duyên ngày ấy. Như mạch sống của đời, có những hồn thơ lớn lên cùng bão giông, có những hồn thơ nở ra từ đất lành và cũng có những hồn thơ được ươm trong gian khổ, chín trong yêu thương. Vạn Lộc – người đàn bà của miền đất tằm tang Duy Trinh đến với thơ chỉ vì lòng không thể lặng im khi đời mình luôn trôi chảy. Chị lớn lên cùng thơ như lớn lên từ những sợi tơ quê nhà, chị dệt nên sợi chữ của lòng mình – vừa mềm mại như lụa, vừa dai dẳng như tơ, và có lẽ chính vì thế, thơ chị mang âm sắc của đất và người miền Trung: chịu thương, chịu khó, mà vẫn dịu dàng, nhân ái.
“Tôi về thương lấy quê tôi
Nghĩa nhân xin gửi muôn lời tạ ơn.”
(Tạ ơn quê)
Là nhà thơ nữ có sức viết dồi dào của văn chương đương đại. Tuy nhiên, chị không học làm thơ ở trường đào tạo nghề viết nào. Chị cũng không theo rèn chữ nghĩa trong khuôn phép học thuật mô phạm nào. Thơ đến với chị như gió về qua mái tranh, như khói lam phủ bếp chiều, như thân tằm rút kén nhả tơ, như nước dòng sông Thu cứ hiển nhiên sẽ về với biển; cứ vậy mà nên thơ: tự nhiên, nhẹ nhõm, mà thấm vào tận da thịt. Với chị, thơ là cách để người đàn bà quê hóa giải những cơn giông trong lòng. Thuở ấy, Vạn Lộc sống giữa bao bộn bề – cơm áo, con thơ, nỗi lo, nỗi nhớ… Nhưng cũng chính trong những lặng thinh của cuộc đời ấy, thơ chị lặng lẽ nảy mầm. Khúc dạo đầu hình thành phong cách thơ Vạn Lộc chính là tập “Chút riêng tư” (NXB Hội Nhà văn,1997). Đây là khúc tâm tình về tình quê và nỗi thương người, là tiếng nói ngập ngừng mà thiết tha của người phụ nữ bước qua tuổi thanh xuân, ngoảnh lại nhìn đời bằng đôi mắt chín. Giọng thơ giản dị mà sâu, thấm đẫm hơi thở của ruộng đồng và nhịp tim của một người biết yêu thương.
“Có những đêm, ta nghe đời lặng quá
Tiếng gió quê rì rào như khúc hát trong tim.”
(Khúc hát trong tim)
Bước qua sự bỡ ngỡ đầu đời trong “Chút riêng tư”, đến với tập thứ hai “Gió thổi từ Đông Yên” (NXB Đà Nẵng, 2005), thơ Vạn Lộc đã thoát khỏi nỗi riêng để hòa vào tình chung. Giọng thơ ấy ngân lên như một khúc đồng dao quê nhà, mộc mạc mà chan chứa nghĩa tình. Nếu “Chút riêng tư” là tiếng lòng, thì “Gió thổi từ Đông Yên” là lời tri ân – tiếng nói của người con trở về, cúi đầu trước quê hương và người thân yêu đã chở che qua những mùa giông gió.
“Tôi về thương lấy quê tôi
Nghĩa nhân xin gửi muôn lời tạ ơn.”
(Tạ ơn quê)
Đến “Lá thức” (NXB Hội Nhà văn, 2012), giọng thơ Vạn Lộc như một nốt ngân chậm lại, thấm đẫm những chiêm nghiệm. Người đàn bà đã đi qua nửa đời người bắt đầu “nghe” tiếng nói bên trong mình – tiếng thì thầm của đất, của lá, của lòng.
“Đêm chạm lá – ta nghe lòng trỗi dậy,
Một giọt sương cũng đủ sáng nhân gian.”
(Lá thức)
Rồi “Sợi tơ lòng” (NXB Văn hóa – Văn nghệ TP.HCM, 2016) đến như một khúc nối dài của sự tỉnh thức ấy. Chị viết:
“Ta gói lòng trong chút nắng hanh,
Gửi về quê cũ một vành tơ giăng.”
(Sợi tơ lòng)
Thơ chị dệt bằng chính sợi tơ của nhân hậu, của bao dung. Mỗi con chữ như sợi tằm se ra từ ký ức quê hương – vừa mềm, vừa bền, vừa lung linh trong nắng chiều của miền Trung đầy gió. Tập “Chín chín nhịp” (NXB Hội Nhà văn, 2021) là kết tinh của một hành trình dài: thơ không còn là nỗi niềm, mà là sự sẻ chia; không còn là tiếng khóc, mà là khúc ru an nhiên.
“Tôi thương lấy những điều không ai thương,
Gom nhặt những giọt buồn còn sót lại.
Rồi gói ghém, gửi vào vần thơ dại,
Cho người đọc chạm đến điều tôi tin.”
(Chín chín nhịp)
Ở đây, Vạn Lộc đã “chín”: “chín” cả trong cảm xúc và nghệ thuật biểu đạt thơ ca. Cái “tôi” trong thơ chị không đi tìm sự lạ, mà tìm sự thật; không phô diễn, mà soi sáng cái ta; không chạy theo thời thượng, mà đứng bên những điều bình dị để tỏa hương nhân ái. “Gió miền lục bát” (NXB Hội Nhà văn, 2021) là khúc hoan ca của người đã tìm thấy thanh thản trong sáng tạo. Vạn Lộc chọn thể thơ dân tộc như một cách trở về với cội nguồn của thơ Việt – nơi âm nhạc và hồn dân gian hòa làm một.
Thôi về ru cỏ à ơi,
Ru tim đắng đót một đời lãng quên
Về thôi, về với mông mênh
Trăm năm ru một chút tình ngàn năm!
(Cỏ hát ca dao)
“Ta là giọt nắng giêng hai,
Rơi trong câu lục bát dài nỗi thương.”
(Gió miền lục bát)
Người đàn bà viết thơ tình,
Là vẽ nước mắt chênh vênh phận buồn
Là mưa đầu núi cuối sông
Là nắng đổ lửa trên đồng cháy khô,
(Chín chiều ruột đau)
Ở tuổi xế chiều, chị vẫn viết, vẫn mỉm cười với chữ. Tập thơ mới nhất “Hái mùa đông vạt nắng” (NXB Hội Nhà văn, 2023) là bó hoa nắng hái trong mùa lạnh – biểu tượng cho nghị lực và niềm tin yêu bất tận.
“Ta hái mùa đông vạt nắng,
Đem hong lại những giấc mơ người.”
(Hái mùa đông vạt nắng)
Trong “Thì thầm với cỏ”, người đọc dễ nhận ra một chất thiền nhẹ mà thấm, không phô trương, không giáo huấn, mà lặng lẽ lan tỏa qua từng hình ảnh, từng nhịp thơ. Cái “thiền” trong thơ Vạn Lộc không đến từ triết lý cao siêu mà từ sự tỉnh thức trong từng khoảnh khắc đời thường: tiếng gió lùa qua hàng tre, giọt sương đọng trên lá, hơi thở của đất trời, nhịp đập của lòng người. Ở đó, cỏ không chỉ là cỏ – mà là biểu tượng của sự sống, của kiên nhẫn, của niềm an nhiên trước biến động. Khi nhà thơ “thì thầm với cỏ”, ấy cũng là lúc chị đối thoại với chính mình, gột rửa những ưu phiền, lắng nghe tiếng nói của nội tâm.
Chất thiền trong thơ Vạn Lộc vì thế không tách khỏi đời sống, mà hòa vào đời, nâng đỡ con người trong những phút chông chênh. Nó là vẻ đẹp của sự buông xả, của tình thương, của niềm tin hiền hậu rằng trong lặng im vẫn có sự hồi sinh, trong mất mát vẫn còn nảy mầm yêu thương. Và chính nhờ chất thiền ấy, thơ chị trở nên tự nhiên mà sâu sắc, giản dị mà vang xa, như một lời mời gọi con người trở về với sự tĩnh lặng, trong lành của tâm hồn giữa cuộc sống nhiều biến động hôm nay. Thơ chị lúc này không còn “đi tìm” mà đã “an trú”: an trong chữ, trú trong lòng nhân hậu. Nhìn lại hành trình ấy, ta nhận ra: mỗi tập thơ là một chặng đời, mỗi vần thơ là một nhịp tim. Từ “Chút riêng tư” đến “Hái mùa đông vạt nắng”, Vạn Lộc đã đi trọn hành trình của một người đàn bà biết yêu thương, biết chịu đựng, và biết hóa giải nỗi đau thành cái đẹp. Giọng thơ chị – đằm, nồng, chân phương mà đầy nhạc tính – chính là kết tinh của một trái tim miền Trung: kiên cường mà bao dung, mộc mạc mà sâu sắc. Vạn Lộc không chỉ viết thơ, mà còn sống như thơ, hành như thơ: dung dị, hiền lành, chan chứa yêu thương. “Đọc thơ chị là thấy bóng dáng một người mẹ, người vợ, người bạn và người thơ hòa làm một.” Và quả thật, điều đó đúng. Thơ và đời của chị hòa vào nhau như hai nhánh sông gặp lại ở khúc bồi khúc lở, mang phù sa của một đời trải nghiệm, của một trái tim không ngừng đập vì con người, vì quê hương, vì chữ nghĩa. Đó là tiếng lòng của người phụ nữ đang học cách đối thoại với nỗi cô đơn, đang tìm kiếm một ngọn sáng trong bóng tối của kiếp người.
Hành trình trao ban
Người đời thường nói: “Phụ nữ miền Trung gánh cả nắng gió lên vai mà vẫn giữ được nụ cười.” Vạn Lộc chính là hiện thân của nụ cười ấy – nụ cười thắp lên từ chịu đựng, mà sáng lên vì yêu thương. Từ những ngày đầu rời quê, đôi bàn tay chị không chỉ lo toan cơm áo, mà còn vun xới những luống thơ trong tâm tưởng. Có lẽ bởi thế, trong mỗi bài thơ, ta thấy một người đàn bà vừa làm dâu, làm mẹ, làm vợ, vừa làm thơ – bốn phận hòa làm một, nhưng không hề chồng chéo. Chị sống giữa bộn bề đời thường, mà vẫn giữ được một cõi thanh tịnh của riêng mình, nơi chữ nghĩa trở thành cách để thở, để yêu,để thứ tha cho cả những điều chưa trọn.
“Tôi thương lấy những điều không ai thương,
Gom nhặt những giọt buồn còn sót lại.
Rồi gói ghém, gửi vào vần thơ dại,
Cho người đọc chạm đến điều tôi tin.”
Đọc Vạn Lộc, ta không chỉ thấy một người thơ – mà thấy một người gieo tình thương lên mặt đất. Cái “tôi” của chị không kiêu bạc, không phô trương. Nó nhỏ nhẹ, nhún nhường, nhưng càng đọc càng thấm, như mùi hương của bông cau trong đêm gió nồm, lan mà không gắt, bền mà không phai.
Người phụ nữ ấy sống như thể mình được sinh ra để chăm, để lo, để thương và để tặng. Tặng cho đời một hương sắc nhân từ, tặng cho người một nụ cười sẻ chia, tặng cho quê hương những bài thơ đầy nghĩa tình. Chị trao đi không đắn đo, không tính toán, vì trong sâu thẳm tâm hồn, chị tin rằng: “Cái gì xuất phát từ lòng thương sẽ quay về bằng lòng biết ơn.” Và chính vì thế, men theo hành trình thơ của Vạn Lộc là hành trình Vạn Lộc tìm cách để trao ban, để lan toả, sẻ chia và tạ ơn. Thuở thiếu thời, Vạn Lộc mượn đời để đến với thơ, bắt ép thơ mang gánh giúp thủ thỉ đời mình… Thì giờ đây, khi thơ gắn với đời mất dần ranh giới thì chị vịn vào thơ để trả nghĩa cho đời. Mỗi dịp có thơ xuất bản là dịp Vạn Lộc được vin vào đó để về với quê cha đất tổ của mình: Xứ tầm tang bên dòng Thu thơ mộng; là dịp chị vin vào thơ để tạ ơn với quê cha, đất tổ của chồng… nơi mà theo nghĩa cả trần lẫn thiên thu vạn đợi chị đã là duyên nợkiếp ba sinh: xứ đất có dòng sông Hương uốn lượn. Vạn Lộc không gánh thơ ra chợ mà gánh về quê hương, nguồn cội.
Theo tôi, đó chính là cuộc hành hương tinh thần của cặp đôi tri kỉ: Vạn Lộc – Thơ ca. Giữa những tiếng vỗ tay, giữa rừng hoa của bè bạn, ta thấy trong ánh mắt Vạn Lộc một niềm xúc động như nước tràn bờ: bà mẹ thơ xứ Quảng trở về lòng quê – nơi từng hạt đất, giọt sương, tiếng chim đều nhận ra dáng chị. Chị chọn cách ra đi để giờ đây chị hạnh phúc khi nhìn con cháu đông đàn trưởng thành trong vinh hiển. Thì giờ đây, con cháu giúp chị có cơ hội trở về. Vạn Lộc trở về quê mình hay quê chồng, gặp ai xấp xỉ tuổi mình chị cũng cúi đầu. Đi qua những vùng đất, những ngôi nhà, những mái đình in dấu ấn thời gian, Vạn Lộc cũng cúi đầu. Chẳng cần hỏi han, nhưng qua cách chị hành, qua ngôn ngữ thơ chị, tôi biết: Chị cúi đầu là để tri ân, là lời tạ ơn với quê hương, xứ sở, cũng là để tạ ơn đời, tạ ơn thơ, tạ ơn với những yêu thương mà chị đã được gieo duyên và dày công gieo trồng, vun đắp. Có những con người, càng đi xa càng gần lại. Càng lặng lẽ càng khiến ta phải chú ý, bởi ánh sáng của họ không rực mà bền, không chói mà thấm. Vạn Lộc là một ánh sáng như thế — ánh sáng được dệt từ sợi tơ nhân nghĩa và lòng bao dung. Từ một cô gái Duy Trinh năm nào bên khung cửi tơ, nay chị đã dệt nên một tấm lụa lớn của thơ ca, của tình người, của nhân văn xứ Quảng. Mỗi vần thơ của chị là một nút chỉ buộc vào đời, mỗi câu chữ là một nhịp gõ của trái tim – không chỉ cho riêng chị, mà cho tất cả những ai còn tin rằng “thơ có thể cứu rỗi phần trong trẻo nhất của con người.”
“Tôi đem tình nhỏ góp vào nhân gian,
Như giọt nước tìm về nguồn sông cũ.”
(Chút riêng tư)
Trong hành trình song hành cùng thơ cũng như hành trình trao yêu thương về với những phận đời, chúng ta nhận ra sự chào đón nồng nhiệt của bạn thơ, của người cùng mẹ Âu Cơ trên mọi miền xứ sở dành tặng chị. Thơ Vạn Lộc như đời của chị – nó không làm người ta choáng ngợp – nó làm người ta muốn sống tốt hơn. Trong dòng chảy văn chương Quảng Nam hôm nay, Thơ Vạn Lộc như một nhịp lặng quý giá, gợi nhớ bao điều: Thơ vẫn cần được viết bằng tim, tình vẫn phải được trao bằng tay, và quê hương chỉ thật sự lớn lên khi mỗi người con biết trả ơn bằng điều đẹp nhất mà mình có. Vạn Lộc đến với thơ như con sông Thu Bồn chảy mãi – âm thầm mà bền bỉ, mang phù sa của lòng nhân, của quê hương, và của chính tâm hồn con người xứ Quảng.
Đà Nẵng, tháng 11/2025





